VI EN
Cà phê hạt  Arabica

Cà phê hạt Arabica

Mã sản phẩm :008

Nhà sản xuất :vangdencoffee

Thành phần :100% Arabica

Khối lượng :1 kg

Lượt xem :1442

Giá : Liên hệ

1. Nguồn gốc và đặc điểm hình thái:

Cà phê Arabica còn được biết đến với cái tên dân gian gọi là cà phê chè. Ở nước ta chủ yếu gồm 2 giống chính là moka và catimor thuộc loài thực vật Coffea L.

Cà phê Arabica có nguồn gốc ở cao nguyên Jimma ở tây nam Etiopia và cao nguyên Boma ở đông nam Sudan. Tuy nhiên, nó được trồng trọt đầu tiên bởi người Ả rập ở thế kỉ 14 và được giới thiệu rộng rãi trên thế giới ở thế kỉ 17. Cà phê Arabica được mô tả đầu tiên bởi nhà sinh vật học Linnaeus (Thụy Điển) vào năm 1753. Cây cà phê Arabica trưởng thành có dạng bụi cây lớn, thẳng đứng, cao khoảng 6m, thực tế chỉ cao khoảng 2-3m, giống của VN nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. § Cây cà phê có cành thon dài, đối xứng. Lá mọc đối xứng, cuống ngắn 0.4 – 1.2 cm. Lá có hình oval, nhọn ở hai đầu, rìa lá quăn, mềm và rũ xuống. Chiều dài của lá khoảng 7 – 20 cm, rộng 4 – 6 cm. Mặt lá nhẵn, mặt trên lá có màu xanh thẳm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Vỏ cây mỏng, có màu xám nhạt và trở nên nứt nẻ, sần sùi khi già Gỗ cây có màu nhạt, cứng, nặng và chắc.Hệ thống rễ bao gồm một rễ trung tâm to, ngắn, cắm sâu vào lòng đất và các rễ phụ lan tỏa xung quanh. Hoa có năm cánh, màu trắng và có hương thơm. Hoa mọc thành từng cụm hoa gồm 2 – 9 cái ở nách lá. Trái cà phê thuộc loại quả thịt, hình oval. Trái xanh khi chín có màu đỏ tươi (chủng Caturra amarello có quả màu vàng), sau chuyển thành màu xanh đen. Trái dài 1.0 – 1.8 cm và rộng 0.8 – 1.2 cm. Trái thường chứa 2 hạt hơi dẹt và thon, có màu xanh lá, dài 0.8 – 1.2 cm. Khi chỉ có một hạt phát triển, nó được gọi là peaberry. Hàm lượng caffeine trong hạt trung bình 1,3%. Caffeine có thể bảo vệ các bộ phận sinh dưỡng của cây khỏi côn trùng, nấm mốc và ngăn ngừa sự phát triển của các cây và vi khuẩn gần hạt cà phê nảy mầm. Cà phê Arabica có bộ nhiễm sắc thể là tứ bội (4n = 44) trong khi các loài cà phê khác là lưỡng bội (2n = 22). Cây cà phê Arabica có đặc tính tự thụ phấn nên có độ thuần chủng cao hơn các loại cà phê khác.

Cà phê Arabica hay còn gọi là cà phê Chè ưa sống ở vùng núi cao. Arabica thường được trồng ở độ cao từ 1000-1500 m. Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê arabica trưởng thành có thể cao từ 4-6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt. Arabica có  giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê.

Trên thị trường cà phê Arabica luôn được đánh giá cao hơn vì có hương vị thơm ngon. Giá cà phê Arabica thường cao hơn gấp đôi so với giá cà phê Robusta. Cà phê Arabica đại diện cho khoảng gần 70% các sản phẩm cà phê cao cấp trên thế giới. Arabica có nguồn gốc từ  vùng cao nguyên nhiệt đới Ethiopia,  đông Phi.  Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Ở Việt Nam,Tỉnh Lâm đồng với các địa phương như Di Linh, bảo Lộc, Đơn Dương, vùng ngoại ô Đà Lạt, đặc biệt là vùng Cầu Đất, được coi là thiên đường cà phê Arabica của Việt Nam với những “chỉ số vàng”, cao 1.500 m. Khí hậu ôn đới mát quanh năm, nhiệt độ cực đại trong năm không vượt quá 33 độ, nhiệt độ cực tiểu 5 độ. Đây là vùng sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao nhất cả nước. Địa hình càng cao, khí hâu càng lạnh hơn,  càng cho ra những hạt cà phê Arabica chất lượng tuyệt hảo.

Arabica có vị chua thanh xen lẫn với vị đắng nhẹ, màu nước nâu nhạt, trong trẻo của hổ phách. Mùi hương của Arabica rất thanh tao, quí phái, Arabica có mùi của si-rô, mùi của hoa trái, hòa quyện với mùi của mật ong, và cà mùi bánh mì nướng, mùi của cánh đồng rơm buổi trưa hè… Arabica chinh phục những con người sành điệu ẩm thực nhất trên thế giới. Cà phê Arabica là nguyên liệu chính của các hãng cà phê, các thương hiệu cà phê nổi tiếng nhất trên thế giới.

Đáng tiếc thay, do không có đủ thông tin và nhận thức về cà phê cao cấp, hầu hết người Việt Nam không nghĩ rằng cà phê có vị chua. Nhiều người Việt còn cho rằng cà phê  là chỉ có đắng chứ không thể chua. Vị chua thanh xen lẫn đắng dịu cùng với mùi thơm ngây ngất, tao nhã của Arabica là một món quà quí giá cho nhưng ai sành điệu cà phê, hương vị độc đáo này đánh thức niềm đam mê mãnh liệt của cả nhân loại uống cà phê. Arabica với phong vị quyến rũ, dịu dàng như 1 cô gái đại diện cho cực âm, cho phái đẹp, cho nữ tính.

Là loại cà phê có hạt hơi dài, được trồng ở độ cao trên 600m ( ở Việt Nam chủ yếu được trồng ở Lâm Đồng ), khí hậu mát mẻ, được trồng chủ yếu ở Brasil, và chiếm tới 2/3 lượng cà phê hiện nay trên thế giới.

Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica va Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở…) rồi rửa sạch rồi sấy. Arabica có ít cafein và nhiều hương thơm (aroma).

2. Đặc điểm sinh trưởng:

Điều kiện trồng trọt

Cây cà phê Arabica ưa nơi mát và hơi lạnh. Nhiệt độ thích hợp để phát triển là khoảng18 – 240C. Sự phát triển của cây sẽ suy yếu khi nhiệt độ môi trường trên 250C. Nếu có sương giá thì lá và trái cà phê sẽ bị hư hại. Do đó, cà phê Arabica

thường trồng ở miền núi có độ cao từ 600 – 1500 m. Để cây arabica phát triển tốt, thông thường độ cao phải trên 1.000m. Dưới độ cao này, cây phát triển rất èo uột.Ngoài ra, lượng mưa thích hợp cho sự phát triển của cây là 1200 – 1500 mm/năm. Nếu lượng mưa cao 2500 – 3000 mm sẽ bắt đầu gây bất lợi cho cây. Cây cà phê phát triển được trên đất có pH từ 4 – 8, tối ưu 5.2 – 6.2. Ngày nay, cà phê Arabica được trồng ở những vùng đất cao, cận nhiệt đới: khắp châu Mỹ Latin,Trung và Đông Phi, Ấn Độ, và vài vùng ở Indonesia.

Thu hoạch

Cây cà phê Arabica có thể cao tới 6 m. Tuy nhiên ở các nông trường, người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2 – 4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Sau khi trồng được 12 tháng, cây có thể đạt chiều cao để hãm ngọn. Cà phê Arabica sau khi trồng được khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Cây cho sản lượng trái cao nhất ở những năm thứ 6 – 8. Thông thường, cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa. Trên thực tế, nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm. Đối với cà phê Arabica, chỉ có một mùa thu hoạch trong năm. Tuy nhiên, ở Colombia, có một mùa thu hoạch chính và một mùa phụ do họ có giống Arabica tốt. Thời gian từ khi ra hoa đến khi trái chín là khoảng tõ 7 – 9 th¸ng và thời điểm thu hoạch trái thường vào tháng 9 hằng năm. Ở những đốt ra hoa và quả ở năm nay sẽ tiếp tục ra hoa ở những năm sau đó. Do đó, khi thu hái trái cà phê Arabica thường được tiến hành bằng tay để không làm tổn hại các đốt ra hoa và chọn lọc được những hạt cà phê chất lượng. Thu hoạch cà phê Arabica cần nhiều lao động.

3. Giá trị kinh tế:

Cà phê Arabica là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Nó chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới. Trên thị trường, cà phê Arabica được đánh giá cao hơn cà phê Robusta vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm

lượng caffein hơn. Ngoài ra, cà phê Arabica được chế biến theo phương pháp ướt – một phương pháp đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị và tạo sản phẩm chọn lọc có chất lượng cao. Cà phê Arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil, gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia, và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác. Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Chất lượng cao chỉ có Colombia, Brazil, chất lượng trung bình.Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ.

I. Giống cà phê Arabica TN1

Giống TN1 được lai tạo từ năm 1991, là thế hệ lai F1 giữa giống KH3-1 (nguồn gốc từ Ethiopia) và giống Catimor (thế hệ F4 du nhập từ Bồ Đào Nha). Giống TN1 được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 725/QĐ-TT-CCN, Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, ngày 12/12/2011. TN1 có các đặc điểm chính:

*  Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép non nối ngọn. *  Sinh trưởng khoẻ*.  Góc phân cành 55 - 600*  Phân cành cấp hai nhiều. *  Năng suất: >5 tấn nhân /ha* .  Chất lượng hạt: P100 nhân >15 g. Hạt A1>70%. * Tỷ lệ tươi/nhân: 5,5 - 6. * Kháng cao đối với bệnh gỉ sắt.

II. Giống cà phê Arabica TN2

Giống TN2 được lai tạo từ năm 1993, là thế hệ lai F1 giữa giống Catimor (Catimor thế hệ F4  Bồ Đào Nha) và KH4 (Xuất xứ từ Ethiopia). Giống TN2 được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 725/QĐ-TT-CCN, Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, ngày 12/12/2011. TN2 có các đặc điểm chính: *  Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép non nối ngọn. *  Sinh trưởng trung bình. *  Góc phân cành 55 - 600. *   Phân cành cấp hai nhiều. *  Năng suất: >4 tấn nhân/ha. *  Chất lượng hạt: P100 nhân >14 g. Hạt A1>70%. *  Kháng cao đối với bệnh gỉ sắt

Sản phẩm cùng loại